Thời điểm và tầm quan trọng

Thông thường thai phụ đến khám lần đầu lúc thai 8-12 tuần. Đây là lần khám thai đóng vai trò quan trọng nhất, các dữ liệu thu thập được trong lần khám này giúp bác sĩ đánh giá tổng quan mức độ nguy cơ của thai kỳ, từ đó đề ra kế hoạch theo dõi thai kỳ phù hợp.

Xác định tuổi thai và ngày dự sinh

Ngày dự sinh thường dựa vào ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối theo công thức: (ngày +7, tháng -3, năm +1). Công thức này giả định thai kỳ đủ tháng là 280 ngày (40 tuần) tính từ kinh cuối (KC), và kinh nguyệt của mẹ đều, chu kỳ là 28 ngày.

Ngoài ra, có thể sử dụng thông số khác kiểm tra hoặc xác định ngày dự sinh:

  • Ngày chuyển phôi (nếu dùng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản)
  • Kích thước tử cung ước lượng qua thăm khám trong nửa đầu thai kỳ.
  • Thời gian thai máy (16-20 tuần)
  • Siêu âm – dùng chiều dài đầu-mông (CRL: crown-rump length) trong 3 tháng đầu thai kỳ (sai số 7 ngày) và đường kính lưỡng đỉnh, chiều dài xương đùi, vòng đầu-vòng bụng.

Hỏi tiền sử, bệnh sử và khám lâm sàng

Lần đầu tiên khám thai, thai phụ sẽ được hỏi các thông tin về tiền sử bệnh lý để xác định nhóm nguy cơ thai kỳ

  • Nội khoa – thai phụ có hay không bệnh nội khoa mạn tính (tăng huyết áp, cường giáp, đái tháo đường, v.v.) gây ảnh hưởng lên thai kỳ. Ngược lại, thai kỳ ảnh hưởng rõ rệt lên diễn tiến của bệnh lý nội khoa sẵn có.
  • Ngoại khoa – thai phụ có hay không các lần phẫu thuật hoặc các biến chứng khi gây mê/tê trước đây, có phải truyền máu không.
  • Sản khoa/Phụ khoa – trong tiền căn sản khoa thai phụ có các vấn đề về tử vong thai, tử vong sơ sinh, trẻ sơ sinh nhẹ cân, sinh non, thai to, thai bị dị tật, nhau bong non, tiền sản giật hay băng huyết sau sinh. Tiền căn gần đây có điều trị vô sinh, bệnh lý viêm vùng chậu, hoặc thai ngoài tử cung cũng quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng của thai như thai ngoài tử cung hoặc đa thai. Về phụ khoa, thai phụ có hay không tiền căn bị bệnh lây qua đường sinh dục.
  • Tiền căn gia đình – thai phụ sẽ được hỏi về các bệnh di truyền có khả năng liên quan đến thai kỳ lần này. Tiền căn những thành viên trong gia đình có bị liệt não (cerebral palsy), rối loạn tâm thần (mental retardation), khiếm khuyết ống thần kinh (neural tube defects), và các dị tật bẩm sinh cũng như các bệnh lý khác, vd., loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), hemophilia, sẽ đặt thai kỳ lần này vào nhóm thai kỳ nguy cơ cao.
  • Xã hội – Nền tảng tâm lý-xã hội và cách sống cũng đóng vai trò quan trọng, vì chúng thường ảnh hưởng đến thai kỳ và dự hậu của trẻ. Thai phụ cũng sẽ được hỏi về thói quen hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng ma túy, và các loại thuốc đang được điều trị hoặc tự mua về. Thai phụ cũng được hỏi về nghề nghiệp, chức vụ, và có gặp những xung đột trong gia đình không, vd. bạo hành gia đình.

Hình ảnh : WHO

Khám lâm sàng

  • Khám tổng quát tất cả thai phụ đều được khám tổng quát vào lần khám thai đầu tiên. Có thể trong nhiều năm những thai phụ này chưa đi khám, nên đây là dịp quan trọng để kiểm tra sức khỏe. Các phần khám quan trọng: đo huyết áp, cân nặng, nghe tim-phổi, khám vú và bụng.
  • Khám tử cung có thai rất quan trọng bao gồm đo bề cao tử cung (BCTC) từ bờ trên khớp vệ đến đáy tử cung. Trong thai kỳ, các lần đo BCTC liên tiếp giúp đánh giá rất tốt sự phát triển của thai nhi dựa vào sự ước lượng giữa BCTC và tuổi thai.
  • Khám khung chậu thường quy có thể phát hiện bất thường ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, tử cung và phần phụ. Quan trọng là ước lượng kích thước tử cung có thai ở giai đoạn sớm và độ dài cổ tử cung. Thai phụ sẽ được tiến hành làm phết mỏng cổ tử cung (Pap smear), và xét nghiệm khí hưu đối với các dịch tiết âm đạo có thể cấy tìm vi trùng lây qua đường tình dục. Sau đó, thai phụ sẽ được khám khung chậu trên lâm sàng để xác định khung chậu có thích hợp không đối với người sinh con so hoặc đối với người sinh con rạ có tiền căn chuyển dạ bất thường hoặc sinh khó.

Các xét nghiệm thường quy

Cận lâm sàng

Thai phụ sẽ được đề nghị thực hiện các xét nghiệm cần thiết từ máu, nước tiểu, đôi khi từ cổ tử cung trong lần khám thai đầu tiên.

  • Hematocrit/Hemoglobin: nhằm phát hiện tình trạng thiếu máu. Nếu phát hiện thiếu máu do thiếu sắt, có thể chỉ định điều trị sắt cho thai phụ.
  • Định nhóm máu ABO/Rh: Nhóm máu ABO (A, B, AB, O) giúp chỉ định truyền máu (nếu cần) được thực hiện nhanh chóng trong quá trình chuyển dạ hoặc sinh. Nhóm màu Rhesus giúp cảnh báo sớm khi thai nhi có Rh(+) trên mẹ có Rh(-). Trong trường hợp này kháng thể trong máu mẹ sẽ tấn công vào máu của thai nhi, gây nên tình trạng thiếu máu ở thai nhi và nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Nếu thai phụ có Rh (-) nhưng thai nhi Rh(+) được xem là thai kỳ nguy cơ cao và có kế hoạch điều trị cụ thể.
  • Tầm soát Rubella: Kiểm tra xem thai phụ có từng nhiễm Rubella chưa. Nếu chưa nhiễm thì trong quá trình mang thai tránh tiếp xúc với những người bị bệnh, và sau khi sinh nên chích vaccine để tạo miễn dịch.
  • Tầm soát giang mai: Đây là một bệnh truyển nhiễm qua đường tình dục, và có thể chữa trị được. Nếu không phát hiện sớm và không điều trị kịp thời, vi khuẩn có thể qua thai và gây biến chứng cho thai (sau tuần 20).
  • HBsAg: Siêu vi viêm gan B có thể qua thai nhi khi thai phụ bị nhiễm virus. Sau khi sinh, mẹ và trẻ sơ sinh cần được điều trị (trẻ sơ sinh sẽ được chích vaccine).
  • HIV: Khi thai phụ bị nhiễm HIV, con cũng có nguy cơ bị nhiễm. Thai phụ sẽ được điều trị thuốc nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm cho con trong quá trình mang thai.
  • Tổng phân tích nước tiểu: Kiểm tra nồng độ glucose và protein. Bình thường có thể có glucose trong nước tiểu, nhưng khi nồng độ glucose tăng cao có thể là dấu hiệu của đái tháo đường. Có protein trong nước tiểu có thể gợi ý một tình trạng nhiễm trùng tiểu, bệnh lý thận, tiền sản giật, …

PGS.TS.BS Tô Mai Xuân Hồng