Trang chủ Hoạt động Chương trình tư vấn Cập nhật điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính

1. ĐẠI CƯƠNG

Viêm gan siêu vi B (VGSV B) là một bệnh phổ biến toàn cầu, do siêu vi viêm gan B gây ra. Bệnh có thể chuyển sang viêm gan mạn tính và hậu quả cuối cùng là xơ gan và ung thư gan, vì vậy cần phải theo dõi và điều trị kịp thời cho những người có nguy cơ bị các biến chứng của viêm gan B mạn tính, bao gồm theo dõi ung thư biểu mô tế bào gan.

2. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA NHIỄM SIÊU VI VIÊM GAN B MẠN TÍNH

2.1 Giai đoạn dung nạp miễn dich

Biểu hiện bằng men gan ALT bình thường, nồng độ HBVDNA tăng (thường > 1000000 IU/ml), HBeAg (+), mô học về gan: viêm và xơ hóa tối thiểu.

2.2 Giai đoạn hoạt động miễn dịch, HBeAg (+)

Biểu hiện bằng men gan ALT tăng, nồng độ HBVDNA tăng≥20.000 IU/ml, HBeAg (+), mô học về gan: viêm hoặc xơ hóa từ trung bình đến nặng.

2.3 Giai đoạn viêm gan B mạn tính không hoạt động

Biểu hiện bằng men gan ALT bình thường, nồng độ HBVDNA thấp hoặc không thể phát hiện được, HBeAg (-), mô học về gan: viêm hoại tử tối thiểu nhưng xơ hóa thay đổi.

2.2 Giai đoạn tái hoạt miễn dich, HBeAg (-)

Biểu hiện bằng men ALT tăng, nồng độ HBVDNA tăng≥2.000 IU/ml, HBeAg (-), mô học về gan: viêm hoặc xơ hóa từ trung bình đến nặng.

3. NHỮNG TRƯỜNG HỢP VGSV B MẠN NÀO NÊN ĐIỀU TRỊ?

- VGSV B mạn tính giai đoạn hoạt động miễn dịch được xác định bởi tăng men gan ALT > 2 lần giới hạn trên của mức bình thường và/hoặc có bằng chứng của bệnh về mô học đáng kể, nồng độ HBVDNA ≥ 105 copies/mL (20.000IU/ml) nếu HBeAg (+) hoặc nồng độ HBVDNA ≥ 104 copies/mL (2.000IU/ml) nếu HBeAg

(-). (Giới hạn trên mức bình thường đối với ALT ở người lớn là 30 UI/L đối với nam và 19 UI/L đối với nữ).

- VGSV B mạnkèm xơ gan còn bù nếu có nồng độ HBVDNA (+) trong máu cần được điều trị bằng thuốc uống chống siêu vi để làm giảm nguy cơ xơ gan mất bù, bất kể nồng độ men gan ALT.

- VGSV B mạnkèm xơ gan mất bù nếu có HBsAg (+) nên được điều trị bằng thuốc uống kháng siêu vi không thời hạn bất kể nồng độ HBVDNA, tình trạng HBeAg hoặc nồng độ men gan ALT để giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến gan.

- Trường hợp ung thư gan có HBsAg (+), nên xem xét điều trị lâu dài trước và sau khi điều trị ung thư gan.

- Những người sau đây nên xem xét điều trị dù VGSV B mạn tính giai đoạn hoạt động miễn dịch nhưng ALT <2 lần giới hạn trên mức bình thường và nồng độ HBVDNA dưới ngưỡng là:

  • Tuổi> 40 tuổi kết hợp với khả năng cao hơn về tổn thương mô gan đáng kể
  • Tiền sử gia đình có người bị ung thư biểu mô tế bào gan.
  • Có các biểu hiện bệnh ngoài gan: chỉ định điều trị không phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh gan.

- VGSV B mạn tính giai đoạn dung nạp miễn dịch đối với người > 40 tuổi có men gan ALT bình thường, nhưng nồng độHBVDNA ≥ 1.000.000 IU/ml và sinh thiết gan cho thấy viêm hoại tử hoặc xơ hóa có ý nghĩa nên điều trị đặc hiệu bằng thuốc kháng siêu vi.

- Viêm hoại tử hoặc xơ hóa từ trung bình đến nặng khi sinh thiết gan là một lý do để xem xét bắt đầu điều trị kháng virus, nếu các nguyên nhân khác gây bệnh gan được loại trừ.

- Đối với phụ nữ mang thai có HBsAg (+) và nồng độ HBVDNA > 200.000IU/ml nên được bắt đầu điều trị thuốc uống kháng siêu vi vào tuần lễ thứ 28 của thai kỳ nhằm làm giảm nguy cơ lây truyền viêm gan siêu vi B chu sinh và con của các bà mẹ này cần được điều trị miễn dịch dự phòng càng sớm càng tốt.

- Trẻ em (từ 2 tuổi-<18 tuổi) có tăng men gan ALT và nồng độ HBVDNA (+) cũng được khuyến cáo điều trị, theo dõi tại bác sĩ chuyên khoa gan.

- Nên điều trị dự phòng VGSV B bùng phát khi điều trị hóa trị liệu hoặc thuốc ức chế miễn dịch cho người nhiễm siêu vi viêm gan .

4. CHỌN LỰA THUỐC NÀOVÀ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ BAO LÂU?

Hiện nay, có các loại thuốc được Tổ chức Y tế thế giới công nhận trong điều trị VGSV B mạn, chia ra làm 2 nhóm theo đường sử dụng: nhóm thuốc tiêm (nhóm thuốc Interferon) và nhóm thuốc uống ức chế sự sao chép siêu vi.

Thuốc được chọn lựa đầu tiên là Tenofovir (300mg/ngày), Entecavir (0,5mg/ngày) hoặc Peg Interferon alpha 2a hoặc 2b tiêm dưới da.

Tuy nhiên viêc chọn lựa loại thuốc nào và thời gian điều trị trong bao lâu tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, bệnh nhân cần nên đến bác sĩ chuyên khoa gan để có hướng điều trị cụ thể cho từng trường hợp.

* Đối với viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg (+): Khuyến cáo thời gian điều trị kéo dài, có thể xem xét ngưng thuốc ở một số trường hợp sau 12 tháng kể từ khi có chuyển đổi huyết thanh HBeAg từ (+) sang (-) và nồng độ HBVDNA dưới ngưỡng phát hiện.

* Đối với viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg (-): Thời gian điều trị kéo dài, có thể xem xét ngưng thuốc khi nồng độ HBVDNA dưới ngưỡng phát hiện trong 3 lần xét nghiệm liên tiếp cách nhau mỗi 6 tháng.

Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, tái phát vẫn có thể xảy ra sau khi ngừng thuốc, vì vậy quyết định thời gian điều trị đòi hỏi phải được bác sĩ chuyên khoa gan xem xét cẩn thận về nguy cơ và lợi ích đối với từng trường hợp bệnh nhân cụ thể.

* Đối với bệnh nhân có xơ gan, thời gian điều trị thuốc uống kháng siêu vi gần như suốt đời.

5. THEO DÕI ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN VGSV B MẠN

5.1.Trong thời gian điều trị:

- Theo dõi các triệu chứng lâm sàng, tác dụng bất lợi của thuốc

- Xét nghiệm men gan, creatinin, HBeAg mỗi 3 tháng, nồng độ HBVDNA mỗi 3-6 tháng/lần.

- Xem xét làm HBsAg định lượng để đánh giá, tiên lượng điều trị.

5.2. Sau khi ngưng điều trị

- Bệnh nhân vẫn cần phải được theo dõi định kỳ các triệu chứng lâm sàng, các xét nghiệm chức năng gan, theo dõi biến chứng xơ gan, tầm soát ung thư gan mỗi 3-6 tháng.

6. KẾT LUẬN

VGSV B mạn là bệnh diễn tiến phức tạp, ung thư gan hoặc xơ gan mất bù vẫn có thể xảy ra trong và sau khi điều trị, nên cần hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ điều trị nhằm tránh kháng thuốc, đồng thời phải theo dõi định kỳnhằm phát hiện sớm các biến chứng của bệnh.

ThS.BS Bùi Phan Quỳnh Phương

Phòng khám Gan