Chẩn đoán hình ảnh (imaging diagnosis) hay hình ảnh học y khoa (imagerie médicale) là ngành ứng dụng các kỹ thuật khoa học công nghệ vào chẩn đoán y học nhằm khám phá các cấu trúc của cơ thể con nguời, được thể hiện bằng những hình ảnh theo qui ước. Cho đến nay, ngành chẩn đoán hình ảnh bao gồm những kỹ thuật chính: X quang, Siêu âm, X quang cắt lớp điện toán (CT scanner – computed tomography scanner), Cộng hưởng từ (MRI – magnetic resonance imaging) và Y học hạt nhân.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, nhất là ngành công nghệ thông tin, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không ngừng được cải tiến nhằm nâng cao khả năng chính xác và tính hữu ích của nó.

Ngày nay, chẩn đoán hình ảnh có các chức năng chính:

  • Truy tầm và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm,
  • Chẩn đoán các giai đoạn của bệnh,
  • Và điều trị bệnh, vai trò này ngày càng chiếm vị trí to lớn.

1. Vài nét về lịch sử ngành chẩn đoán hình ảnh:

X quang là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đầu tiên được ứng dụng từ những năm đầu của thế kỷ XX, ứng dụng tia X do nhà vật lý học người Đức Roentgen khám phá vào năm 1895 và được trao giải Nobel Vật lý vào năm 1901. Kỹ thuật này từ khi ra đời, đã thống trị ngành chẩn đoán hình ảnh trong một thời gian dài hơn nửa thế kỷ và vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán cho đến ngày nay. Vì vậy mà trước đây, ngành chẩn đoán hình ảnh có tên gọi là ngành X quang.

Mãi cho đến những năm 1950, kỹ thuật hình ảnh thứ hai là Y học hạt nhân (còn gọi là ghi hình phóng xạ hay xạ hình) lần đầu tiên được đưa vào ứng dụng trên lâm sàng với máy ghi hình gamma đặc biệt. Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách đưa vào trong cơ thể một loại chất phóng xạ có liều rất thấp, chất này sẽ được các cơ quan, nội tạng hấp thu rồi phát ra những tín hiệu phóng xạ được máy ghi hình gamma thu nhận và đo đạc.

Siêu âm là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thứ ba được đưa vào ứng dụng lâm sàng từ những năm 1960. Kỹ thuật này sử dụng một đầu dò phát ra chùm sóng âm thanh có tần số rất cao (gọi là sóng siêu âm mà tai người không nghe được) đi xuyên vào cơ thể, lan truyền đến các cơ quan nội tạng bên trong, tương tác năng lượng, sau đó một phần sóng được phản hồi trở lại và được đầu dò thu nhận, chuyển tín hiệu về bộ phận xử lý để cho ra những hình ảnh sống động của cơ quan nội tạng đó mà ta thấy được như ngày nay. Đây là kỹ thuật ứng dụng nguyên lý của sóng âm thanh, không bức xạ nên có tính an toàn sinh học cao. Cho đến nay, nhờ những tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số, cộng nghệ chế tạo máy, các kỹ thuật siêu âm Doppler màu, siêu âm 3 chiều, 4 chiều, siêu âm trong lòng các ống tiêu hóa, trong lòng mạch máu, đường tiết niệu… với các kích thước đầu dò ngày càng nhỏ nhưng độ phân giải ngày càng cao đã nâng cao chất lượng hình ảnh cho chẩn đoán.

Từ thập niên 1970, kỹ thuật số bắt đầu được ứng dụng vào X quang đã làm kỹ thuật này phát triển mạnh mẽ theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, được xem là một cuộc cách mạng trong chẩn đoán hình ảnh. X quang số hóa hay X quang kỹ thuật số đã làm giảm đáng kể liều tia xạ phát ra khi chụp, chất lượng hình ảnh được nâng cao nhờ tăng độ phân giải không gian và phân giải tương phản. Ngoài ra hình ảnh có thể được xử lý với các phần mềm, có thể dựng hình, tái tạo hình 3 chiều, nâng cao tính chính xác của chẩn đoán cũng như dễ dàng lưu trữ, truy cập và chuyển tải. Đỉnh cao về chiều sâu của sự kết hợp này là sự phát minh ra máy chụp X quang cắt lớp điện toán đã mang lại cho Hounsfield, được xem là cha đẻ của loại máy này, giải Nobel Sinh lý / Y học vào năm 1979.

Hiện tượng cộng hưởng từ đã được khám phá từ những năm 1950, nhưng mãi đến thập niên 80 mới được ứng dụng đầu tiên trên lâm sàng. Máy cộng hưởng từ đầu tiên được đưa ra thị trường và được Tổ chức thuốc và thực phẩm (FDA) của Mỹ công nhận vào năm 1984 và ngay sau đó đã phát triển rộng rãi. Đây là kỹ thuật tạo ảnh ứng dụng những nguyên lý cộng hưởng của từ trường bên ngoài (máy cộng hưởng từ, bản chất là khối nam châm có từ lực cao) và bên trong (từ trường do cơ thể tạo ra). Do đó, cũng như siêu âm, nó có tính an toàn sinh học cao nên có thể dùng để chẩn đoán các bệnh lý của bào thai, trẻ em… Tuy nhiên, giá thành chụp cộng hưởng từ cho đến nay còn đắt.

Phát triển theo những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, từ những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, các nguyên lý của mỗi kỹ thuật căn bản như đã nêu trên đã phối hợp với nhau để cho ra đời những máy có khả năng chẩn đoán một số loại bệnh với độ chính xác cao hơn như PET – CT (phối hợp X quang cắt lớp điện toán và ghi hình y học hạt nhân)…

2. Hoạt động của Khoa chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM – cơ sở 2:

Khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đại học Y dược có 5 phân khoa: X quang, Siêu âm, X quang cắt lớp điện toán. Hình ảnh và kết quả các kỹ thuật chụp được nối mạng với nhau, lưu trữ và truy cập lại dễ dàng. Các kỹ thuật đã được thực hiện tại khoa chẩn đoán hình ảnh tóm lược như sau:

+ X quang: hệ thống X quang tại Bệnh viện Đại học Y dược đã được kỹ thuật số hóa toàn bộ (Hệ thống Capsula II – Fuji) đã giảm thiểu đáng kể liều tia xạ phát ra khi chụp so với các hệ thống máy X quang thông thường, chất lượng hình ảnh cao hơn, được xử lý và lưu trữ lâu dài. Hệ thống máy in phim khô, kỹ thuật số trên nền phim chất lượng cao cho ra những tấm phim đến tay người bệnh có hình ảnh sắc nét, bảo quản được lâu dài và giảm đáng kể thời gian chờ đợi kết quả.



Bệnh viện thực hiện tất cả các kỹ thuật chụp X quang thông thường và các loại X quang có cản quang đặc biệt.

Ngoài ra, kết hợp với khoa chẩn đoán hình ảnh cơ sở 1, bệnh viện Đại học Y dược còn thực hiện các kỹ thuật  X quang vú, X quang động học tống phân (defecography)… cũng như các kỹ thuật thủ thuật như chụp mật xuyên gan qua da, chụp mật tụy qua nội soi, sinh thiết tuyến vú dưới hướng dẫn của máy X quang vú…

+ Siêu âm:
Khoa được trang bị 5 hệ thống máy siêu âm hiện đại của các hãng Siemens (Đức), General Electrics (Mỹ), Esaote (Ý).

Chức năng:

  • Siêu âm tổng quát thông thường,
  • Siêu âm tim,
  • Siêu âm Doppler màu mạch máu và nội tạng các loại,
  • Siêu âm sản phụ khoa
  • Siêu âm 3 chiều, 4 chiều trong sản khoa, tầm soát dị dạng thai nhi…

 

 

 

Ngoài ra, kết hợp với khoa chẩn đoán hình ảnh cơ sở 1, bệnh viện Đại học Y dược còn thực hiện các kỹ thuật:
  • Siêu âm trong mổ mở và mổ nội soi với các đầu dò chuyên dụng,
  • Siêu âm lòng trực tràng, lòng hậu môn để đánh giá các bệnh lý của hậu môn trực tràng với đầu dò xoay 360 độ tái tạo hình 3 chiều,
  • Siêu âm tuyến tiền liệt với đầu dò 2 bình diện Doppler màu, 3 chiều dễ dàng đánh giá đo đạc tổn thương và sinh thiết đúng qui cách, ít đau,
  • Siêu âm bơm nước lòng tử cung,
  • Siêu âm đàn hồi mô trong chẩn đoán giai đoạn xơ gan, phân biệt tổn thương lành tính, ác tính ở gan, tuyến vú, tuyến giáp…
  • Thực hiện các thủ thuật can thiệp: các loại sinh thiết, khảo sát tế bào bằng chọc hút kim nhỏ (FNA), chọc hút, dẫn lưu dịch, áp xe…

+ Chụp cắt lớp điện toán (CT scanner): với máy CT 16 lát cắt, khoa thực hiện tất cả các kỹ thuật chụp trên máy CT đa lớp cắt, đo đạc, tái tạo, dựng hình… cung cấp những thông tin thiết thực cho chẩn đoán và điều trị các bệnh lý sọ não, xoang, hàm mặt, lồng ngực, bụng, chậu, mạch máu, chụp phổi tầm soát liều tia thấp, chụp CT đo kích thước khung chậu trong sản khoa,...

Ngoài ra, kết hợp với khoa chẩn đoán hình ảnh cơ sở 1, với các hệ thống máy CT 64 lát và 128 lát, bệnh viện Đại học Y dược còn thực hiện các kỹ thuật chụp cao cấp như trong tim, mạch vành, tưới máu não, nội soi đại tràng ảo,...

Liên kết thực hiện các kỹ thuật tại Bệnh viện Đại học Y dược cơ sở 1 – 215 Hồng Bàng.

+ Chụp cộng hưởng từ (MRI): máy có từ trường cao 1,5 Tesla và 3 Tesla, công nghệ ma trận ghi hình toàn thân (TIM + DOT) làm cho thời gian chụp được nhanh hơn với chất lượng hình cao, kết nối được các bộ phận, toàn thân. Bệnh viện thực hiện tất cả các kỹ thuật, chụp tất cả các bộ phận: sọ não, đầu-mặt-cổ, cột sống, phần mềm, cơ-xương-khớp, vùng bụng-chậu, tuyến vú, chụp mạch máu...

Đặc biệt, khoa đã thực hiện các kỹ thuật:

  • Tiêm tương phản nội khớp (arthro-MR), giúp phát hiện dể dàng, chính xác và đầy đủ các thương tổn của khớp.
  • Chụp mạch máu toàn thân
  • Chụp mạch bạch huyết
  • Chụp tuyến vú với kỹ thuật khảo sát động học đồng thời hai vú
  • Khảo sát động học vùng sàn chậu, khảo sát tống phân (defeco-MR)
  • Chụp tuyến tiền liệt, tử cung phần phụ, ống hậu môn với endocoil…

+ Y học hạt nhân: với hai máy ghi hình Spect, bệnh viện đã thực hiện các kỹ thuật xạ hình để đánh giá thương tổn cũng như chức năng của tuyến giáp, thận, tim, xương…

+ Hình ảnh học can thiệp: với chức năng điều trị, khoa chẩn đoán hình ảnh đã thực hiện các kỹ thuật điều trị:

  • Hủy khối u hay nang bằng ethanol trong điều trị các khối u gan, nang gan, nang thận, nang tuyến giáp… dưới hướng dẫn siêu âm
  • Hủy u bằng sóng cao tần (RFA) điều trị các khối u gan
  • Chọc hút, dẫn lưu, giải áp các khối tụ dịch, áp xe, dẫn lưu giải áp đường mật, túi mật…
  • Thuyên tắc hoá dầu động mạch gan (TACE) điều trị ung thư gan
  • Thuyên tắc các loại khối u vĩnh viễn hay tạm thời trước mổ: u mạch máu ở gan, ở thận, trong mô mềm…
  • Thuyên tắc động mạch tử cung trong điều trị u xơ tử cung, băng huyết sau sinh…
  • Thuyên tắc động mạch điều trị ho ra máu, xuất huyết tiêu hóa…

Các kỹ thuật đặt stent, lấy máu đông trong điều trị hẹp hay thuyên tắc các động mạch ở thận, ở các chi…

+ Chức năng đào tạo: Là một bệnh viện của Đại học Y dược TPHCM, ngoài chức năng khám, chẩn đoán và điều trị như đã nêu trên, khoa chẩn đoán hình ảnh còn là đơn vị đào tạo liên tục sinh viên Y khoa chuyên ngành kỹ thuật hình ảnh y học, các bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh trong sau đại học, các lớp bồi dưỡng ngắn hạn chuyên ngành…cho khu vực và trên cả nước.

Ngoài ra, trong khuôn khổ hợp tác quốc tế của bệnh viện và của khoa, khoa chẩn đoán hình ảnh đã hợp tác trao đổi kinh nghiệm và đào tạo với các bệnh viện ở một số nước: Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ, Pháp...